Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Le marriage de 3 régions du Vietnam

* HÀ NỘI

Nghi thức, nghi lễ cưới ở Hà Nội so với các vùng khác có quy định nghiêm ngặt hơn, nhưng trải qua một thời gian nghi thức đó cũng đã thay đổi theo tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, dù có thay đổi gì cũng phải giữ 3 lễ:

• Chạm ngõ là lễ tiếp xúc đầu tiên, chính thức của hai gia đình nhà trai và nhà gái. Ngày nay, những gia đình ở Hà Nội vẫn giữ nguyên nếp xưa, lễ chạm ngõ vẫn được xem là thủ tục cần thiết, để giữa hai gia đình, " chỗ người lớn " thưa chuyện với nhau. Sau lễ chạm ngõ, người con gái được xem như có nơi có chốn, bước đầu để tiến tới chuyện hôn nhân.

• Sau lễ chạm ngõ là đến lễ ăn hỏi. Dù là tầng lớp nào thì cũng không thể thiếu được cơi trầu. Một lễ ăn hỏi của người Hà Nội thì không thể thiếu cốm và hồng. Nếu gia đình khá giả thì ngoài cốm - hồng và trầu cau còn có thêm lợn sữa quay. Ðồ lễ ăn hỏi gắn liền với đặc sản của vùng đất Hà Thành, gồm có: bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc lá... Dù lễ vật nhiều, ít nhưng không thể thiếu bánh "su sê", ngày xưa gọi là bánh "phu thê", một số địa phương gọi chệch ra là bánh "su sê" là biểu tượng của đôi vợ chồng duyên phận vẹn toàn. Thông thường lễ ăn hỏi gồm có 3 lễ: lễ đàng nội, lễ đàng ngoại và lễ tại gia. Lễ tại gia thường được chia ra đưa kèm theo người được mời cưới.

• Thời gian sau khi ăn hỏi đến lễ cưới thông thường là dưới 10 ngày. Lễ rước dâu ngày xưa có rất nhiều thủ tục, đi đầu đám rước là những người giàu có địa vị trong làng xã, khi đón dâu ra đến đầu làng còn có lễ chăng dây, đầu làng hoặc đầu phố (lễ chăng dây đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn), muốn đi qua phải đưa một ít tiền. Ăn uống, tiệc tùng diễn ra trước ngày cưới 1 ngày (bây giờ thường tổ chức ngày trong ngày cưới). Sau khi Hà Nội đô thị hóa, dân cư tập trung chủ yếu ở trung tâm thành phố, là khu vực 36 phố phường thì phong tục cưới xin cũng vì thế thay đổi do tiếp thu trình độ văn hóa phương Tây. Ðám cưới bắt đầu xuất hiện thiệp báo hỷ, khi đưa thiệp mời cưới phải đưa kèm theo chè và hạt sen (lấy từ lễ ăn hỏi). Ðến nay tục này vẫn còn được giữ lại. Nếu là đám cưới của những gia đình khá giả, phải có quả phù tang (dùng để đựng đồ lễ, dài từ 80cm đến 1m) do hai người khiêng, đựng trầu cau, lợn sơn son (tục này vẫn được giữ trước năm 1945). Sâm banh được mỡ ra báo hiệu một lễ cưới bắt đầu, rượu sâm banh với bánh sâm ba là hai thứ không thể thiếu trong lễ cưới của những người phong lưu. Nhưng dù là người giàu hay nghèo trong đám cưới cũng chỉ dùng tiệc ngọt (không dùng mặn).

Trong khi đón dâu, cô dâu chú rể phải làm lễ gia tiên, lễ này như một sự tưởng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên. Sau lễ thành hôn, hai vợ chồng tân hôn trở về nhà gái mang theo lễ vật để tạ gia tiên gọi là lễ lại mặt. Lễ này hiện nay một số đám cưới bỏ qua, từ sau lễ lại mặt bố mẹ cô dâu mới chính thức tới nhà thông gia, vì trong lễ cưới mẹ cô dâu không đi đưa dâu. Lễ lại mặt thường tiến hành vào ngày thứ hai hoặc thứ tư sau lễ cưới (gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ).

* HUẾ

Quy trình tổ chức lễ cưới ở Huế cũng có đủ các bước thủ tục như các địa phương khác, từ lễ chạm ngõ, hỏi cưới, đến tân hôn vu quy... Nhìn tổng thể, các đám cưới Huế thường diễn ra tiết kiệm, giản đơn, không phô trương, nhưng ở mỗi phần cụ thể khá cầu kỳ, với quan niệm "trọng lễ nghi khi (khinh) tài vật".
• Chuẩn bị lễ hỏi, lễ cưới, người Huế thường xem ngày giờ tốt xấu, có khi lên chùa thỉnh ý các cao tăng. Sau khi chọn ngày giờ, hai bên thông gia sẽ báo cho nhau bằng một cuộc thăm đơn giản. Việc này cũng đôi khi do đôi bạn trẻ thực hiện, nhưng phải là hai nhà có thân tình từ trước.

• Ðối với đám hỏi, người Huế chỉ xem là buổi gặp mặt giữa hai gia đình và tông tộc thân thích để giới thiệu đôi bạn trẻ, không tổ chức rầm rộ. Ðám cưới Huế có các lễ: xin giờ, nghinh hôn, bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở nhà gái, và đón dâu, trình báo gia tiên ở nhà trai. Người Huế không có tục thách cưới, lễ vật trong lễ cưới tối thiểu chỉ gồm có mâm trầu cau, rượu trà, nến tơ hồng, bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể thêm bánh kem, bánh dẻo; không có "lợn quay đi lộng" như nhiều nơi. Ngoài ra, đám cưới ở Huế luôn có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ rước đèn đi trước. Hai đứa trẻ thường là 1 trai 1 gái, tuổi tương đương cầm lồng đèn hay cầm hoa.

• Trong đêm tân hôn, đôi bạn trẻ phải làm lễ giao bôi hợp cẩn. Người Huế có tập tục để trong phòng hoa chúc một khay lễ với 12 miếng trầu, đĩa muối, gừng và rượu giao bôi. Ðôi bạn trẻ phài nhai hết 12 miếng trầu ấy, tượng trưng cho 12 tháng hòa hợp trong một năm, 12 năm hòa hợp tuần hoàn trong một giáp âm lịch. Việc ăn muối ăn gừng mang màu sắc dân gian, biểu tượng nghĩa tình nồng thắm. Còn rượu giao bôi thì theo đúng với lễ giáo phong kiến của Trung Hoa cũ.

• Khi đưa dâu, thông thường bố mẹ cô gái sẽ không theo xe, mà hôm sau mới sang nhà trai, với ý nghĩa xem cô con gái ngày đầu về làm dâu có làm điều gì phật lòng nhà chồng. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu khách sáo, nhắn gửi con cái cho nhau, và căn dặn con mình phải thuận thảo với gia đình bên vợ hoặc bên chồng. Hiện nay, lễ này đã được nhiều gia đình Huế giảm bớt, bằng cách khi rước dâu, bố cô gái theo về nhà trai bằng một chiếc xe khác xe hoa, và tại tiệc đãi sẽ trao đổi với nhà trai. Ba ngày sau lễ cưới, cô dâu mới được trả lại nhà bố mẹ để thu dọn tư trang về nhà chồng, bắt đầu cuộc sống làm dâu.

• Tính cầu kỳ của người Huế tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không hề có chuyện ầm ĩ ồn ào thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Trao đổi ngôn từ giữa hai bên thông gia, giữa bà con thân thuộc đều rất thận trọng. Việc thưa gửi, trình bày của chủ hôn, bố mẹ hai bên đều rất khuôn sáo và không bỏ sót ai.

• Ðặc biệt, quan hệ tuổi mạng rất được coi trọng ở đám cưới Huế. Vị chủ hôn thường là vị cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy đủ, không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu phù rể là người chưa có chồng vợ, tính tình vui vẻ nhanh nhẹn. Một số nhân vật khác cũng được lực chọn tùy phần nghi lễ phù hợp. Ðơn cử trước ngày cưới đôi tân hôn có thể đưa nhau đi may áo cưới (nếu gia đình khá giả), thì ngày giờ đi may phải tốt, chủ tiệm may là người còn cả vợ chồng, nhiều con cái, gia đình hòa thuận. Việc bài trí phòng tân hôn phải do một người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ vật rước dâu, nhà trai nhờ một người cao tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình hòa thuận kiểm tra. Người này cũng sẽ têm trầu cau, bày cặp nến hồng trên bàn thờ gia tiên nhà gái. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng cũng phải được người này thổi tắt. Số người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Trước khi đi và khi đón dâu về, nhà trai thường cử vài người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để "lấy hên" cho đôi tân hôn.
theo Tiến sĩ TÔN THẤT BÌNH

* NAM BỘ

Hôn lễ chính cử hành tại gia đình. Vì là lễ điều kiện tiên quyết là trang nghiêm, sạch sẽ. Vị trí buổi lễ là khu vực thờ tổ tiên, trong nhà, trang trí tùy theo gia đình, phải có đủ "hương đăng hoa quả".

• Họ hàng đàng trai đến, có người làm mai đi đầu. Phẩm vật đưa đến, ngoài trái cây, bánh kẹo, phải có trầu cau, truyền thống này nay vẫn giữ, nghe đâu có từ thời Hùng Vương dựng nước. Ðó là nét văn hóa, linh thiêng của dân tộc Việt. Phải có cặp đèn (nến) thật to, trùng với kích thước của đôi chân đèn trên bàn thờ. Ðại diện nhà trai đến, kính cẩn mời đàng gái uống trà, rượu, và mời ăn trầu. hai bên bàn bạc với nhau vài chi tiết, tặng nữ trang, tiền mặt, không mất thì giờ vì đã thỏa thuận với nhau từ trước rồi. Xong xuôi, người trưởng tộc của đàng gái tuyên bố: "Xin làm lễ lên đèn". Hiểu đó là kiểu "ký tên, đóng dấu" chính thức.

• Lên đèn là nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất, bắt buộc phải có. Hai ngọn nến to, do đàng trai đem đến được đặt trên bàn thờ ông bà. Người trưởng tộc bèn khui một chai rượu, trong số hai chai do đàng trai đem đến. Rồi thì ông đứng trước bàn thờ ngay chính giữa, cô dâu và chú rể đứng hai bên, im lặng. Hai ngọn đèn được đốt lên, từ ngọn lửa của cái đèn trứng vịt nhỏ của bàn thờ (hiểu là lửa hương hỏa). hai ngọn đèn cháy từ từ, đặt sát nhau vì người làm lễ đang áp vào hai tay, như khấn vái. Khi lửa cháy đều ngọn, ông này từ từ giang cánh tay ra trao cho hai người trợ lý mỗi bên một ngọn để cắm vào chân đèn. Ngọn đèn phải cháy thong dong, đều đặn, nếu bên cao bên thấp thì sẽ có dư luận chàng rể sợ vợ, cô dâu sẽ lấn hiếp chồng. Ðề phòng nến tắt, nhiều người đóng cửa sổ thật kỷ, sợ gió tạt hoặc tạm thời tắt quạt máy. Ngày nay, đèn chế biến bằng hóa chất, không làm bằng sáp ong như xưa nên dể tắt bất ngờ. Trong lúc lên đèn, có sự tôn nghiêm kỳ lạ. Lửa là sự sống, là niềm lạc quan. Lửa nối quá khứ, nối tổ tiên đến hiện tại. Lửa nối mặt đất lên trời. Lửa dịp lễ hội ở đình làng, với đèn. Lửa ở ngay cà những Thế vận hội. Lễ lên đèn theo tôi là lễ quan trọng, bắt buộc phải có ở mọi hôn lễ từ xưa đến nay. Lên đèn là đủ rồi.
theo nhà văn SƠN NAM


Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

Pâté de porc à la cannel - Chả Quế

Ingrédients pour quatre personnes 

 
- 500 g de porc dans l’échine 
   - 1 échalote hachée
 
   - 1 cuillère à soupe de
 nuoc mam 
   - 1/2 cuillère à café de sel

- 1/2 cuillère à café de poivre blanc moulu
- 1/2 cuillère à soupe de sucre
- 1 cuillère à soupe d’huile

- Quelques glaçons pilés
 - 1 cuillère à soupe de farine de tapioca (ou de maïzena)
 - 1/2 cuillère à café de poudre de cannelle
 - 1/2 cuillère à café de levure chimique

- 1 cuillère à soupe d’huile
- 1/2 cuillère à café de poudre de cannelle
- 1/2 cuillère à café de miel

Préparation et conseils

Couper la viande en petit morceaux.

Mélanger les ingrédients B. Tremper la viande et laisser mariner une nuit (au frigo).

Diviser la viande marinée pour mixer en deux fois. Mettre une moitié au mixeur avec glaçons pilées, hacher une minute, mélanger, recommencer une minute, mélanger. Continuer l’opération jusqu’à ce que la pâte devienne homogène et qu’il n’y ait plus de morceaux. Recommencer l’opération avec l’autre moitié de viande.

Ajouter les ingrédients D et bien mélanger. Passer au robot en utilisant un batteur plat. Sinon, il faut bien piler à l’aide d’un grand pilon et bien lisser à l’aide d’une cuillère en silicone.

Préchauffer le four à 210°C. Verser la préparation sur une plaque de cuisson. Former un rectangle épais. Bien lisser la surface.

Mélanger les ingrédients E. Badi-geonner la surface à l’aide d’un pinceau alimentaire.
Cuire au four pendant 20 minutes.


Les nems

Ingrédients pour quatre personnes 



- 200 g à 300 g de viande de porc (on peut prendre de l’échine) ou de poulet hachée ou/et de la chair de crabe (2 petites boîtes maxi)
- 100 g de carottes
- 50 g de champignons noirs
- 50 g (1/2 sachet) de vermicelles de soja (demandez au vendeur des vermicelles pour nems)

- 2 œufs
- un oignon
- une gousse d’ail
- sel et poivre
- un paquet de petites galettes de riz (que vous découperez, après les avoir mouiller une fois la farce prête)
- de l’huile de friture, arachide
- des feuilles de salade (laitue)
- de la sauce nuoc mam pour nems (que vous pouvez acheter toute prête ou que vous préparez)
- de la menthe fraîche

Préparation et conseils

Mettre les champignons 30 minutes dans un bol d’eau tiède. Faire la même chose pour les vermicelles, dans un autre récipient.

Hacher finement tous les ingrédients : viande, oignon, ail, carottes.

Essorer les champignons et les couper en fines lamelles. Couper les vermicelles et bien mélanger à la main tous les ingrédients, en ajoutant les œufs, afin d’obtenir une farce bien homogène. Ajouter le sel, le poivre et quelques gouttes de nuoc mam pur (pas trop).

Remplir une assiette ou un plat creux d’eau tiède et laisser tremper environ une seconde (juste en l’immergeant) une galette, sans la lâcher. La poser sur un torchon, juste un peu humide, afin que la galette ne colle pas (couper la galette si elle est trop grande, de façon à faire des petits rouleaux).

Dernière étape : le moment le plus délicat.

Déposer un peu de farce (en forme de petit cylindre) dans le bas de la galette, en laissant un espace d’un centimètre de chaque côté (pour pouvoir rabattre les coins). Rouler la galette autour de la farce, rabattre les côtés quelques centimètres avant la fin et finir de rouler. Vous obtenez ainsi des rouleaux de 5 à 7 cm de long.

Faire chauffer l’huile dans une poêle ou dans une friteuse, et plonger le rouleau dans l’huile très chaude, jusqu’à ce qu’il soit doré et cuit à l’intérieur.

Présenter les nems sur un plat, en disposant des feuilles de salade et de menthe fraîche.

Les convives peuvent aussi enrouler les nems dans une petite feuille de salade, ajouter une feuille de menthe et les tremper dans la préparation de nuoc mam.

C’est convivial, un peu comme la fondue bourguignonne !


Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

Les facons pour effacer les noirs de l'échappement

1. Miel
- Mettre du miel sur la peau brulée.
- Masser doucement pendant 20 - 30 minutes.
- Nettoyer avec l'eau tiède.

2. Jus du citron
- Utiliser l'écouvillon en pénétreant jus du citron à mettre sur le noir.
- Laisser dans 15 minutes et rincer avec l'eau tiède.

3. Lait frais
- Prendre une quantité convenable du lait et mettre sur la peau noir.
- Masser doucement pendant 30 minutes.

4. Gel de l'aloès (Lô Hội)
- Metter le gel de l'aloès sur la peau brulante.

5. Gigembre or Curcuma frais
- Couper en morceau mince, mettre sur la peau noir.
- Refaire plusieur fois par jour (3-4 fois/ jour)

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Les Grandes Inventions Francaises


De l’invention de la machine à calculer à celle des détecteurs de particules, voici répertoriées, entre le XVIIe siècle et le XXe siècle, quelques-unes des nombreuses inventions françaises qui ont contribué à faire avancer le monde et à le changer. Ces grandes inventions couvrent un large spectre : transports, médecine, physique, arts visuels, arts de la table, hautes technologies…

1.    Invention du Minitel (1977-1981)


Initiant les Français à la communication électronique avant internet, le Minitel a joué un rôle majeur dans l’histoire des télécommunications en France. À son apogée, à la fin des années 1990, il équipait neuf millions de foyers et d’entreprises, et faisait un milliard d’euros de chiffre d’affaires.
L’origine du Minitel remonte à 1977, quand le président de la République Valéry Giscard d’Estaing demande à Simon Nora et Alain Minc, inspecteurs des finances, de rédiger un rapport sur "L’informatisation de la société". Ce rapport, qui est publié et devient un best-seller, invente le mot et concept de "télématique" (liant télécoms et informatique), préfiguration du Minitel. Alors lancé par Gérard Théry, directeur général des Télécommunications, un projet de services d’informations en ligne se concrétise par la mise en place du réseau Télétel et de son accès par Minitel, terminal  du premier "réseau télématique" grand public dans le monde.
En 1981, 4 000 terminaux Minitel sont distribués gratuitement en guise de test dans le département d’Ille-et-Vilaine. La gratuité est conservée lors de la commercialisation du Minitel sur tout le territoire un an plus tard, en 1982, avec l’ouverture d’un premier service opérationnel – l’annuaire électronique gratuit (3611). Pour sa rentabilité, le réseau Télétel va en effet s’appuyer, non sur l’appareil Minitel lui-même, mais sur le prix de la durée de connexion (téléphonique) au service d’accès Télétel qui permet une pluralité de tarifs par minute, avec les fameux paliers 3615, 3616, 3617, etc. Quant à l’accès gratuit au 3611, il stimule le lancement du Minitel, prêté gratuitement à chaque abonné du téléphone. Grâce à cette politique volontariste, le Minitel, qui connaît un succès immédiat, permet à des millions de Français de se familiariser avec les "services en ligne" avant l’heure d’nternet et de l’ordinateur individuel.

2.    Invention de la carte à puce (1974)

 

Carte bancaire, carte SIM, carte Vitale, pass Navigo… Brevetée en 1974 par Roland Moreno, la carte à puce est une invention française. Elle s’est d’abord généralisée par le biais de la carte bancaire.
L’idée novatrice de Roland Moreno, autodidacte passionné d’électronique, est de loger une mémoire à circuits intégrés (PROM 1024 bits) dans une carte à format standard…
La première demande de brevet est déposée le 25 mars 1974 par Roland Moreno qui baptise d’abord son projet TMR, en référence au film Take the Money and Run ("Prends l’oseille et tire-toi") de Woody Allen ! L’enregistrement de données (dans la mémoire PROM) de son projet de carte à puce est "irréversible, inconditionnel et sélectif", muni d’un "comparateur de code" et d’un "compteur d’erreurs", le tout étant unifié par des "moyens inhibiteurs".
Cette technique intéresse très vite le secteur bancaire (qui crée un groupement d’intérêt économique "Carte bancaire"), puis la direction générale des Télécommunications (aujourd’hui France Télécom) qui cherche alors à remplacer les pièces de monnaie des cabines téléphoniques par des cartes téléphoniques. Mais il faudra encore huit ans avant que la carte à puce ne franchisse l’étape industrielle (Gemplus International). Depuis lors, la carte à puce n’a cessé de se diversifier. Au début du XXIe siècle, trois milliards de cartes à puce sont utilisées dans le monde.

3.    Invention du TGV (1974-1981)

 

L’histoire du TGV commence officiellement en France en 1974, avec le projet d’un " train à grande vitesse " sur la ligne Paris-Lyon. Depuis son lancement en 1981, le TGV n’a cessé d’augmenter sa vitesse.
Les éléments précurseurs du TGV sont multiples. En 1955, la France fait des essais de train à grande vitesse dans les Landes, avec un record du monde à 331 km/h sur infrastructure classique. Mais la grande vitesse ferroviaire sur infrastructure spécialisée trouve son origine dans la mise en service au Japon du Shinkansen ("nouvelle grande ligne") qui révolutionne le transport de voyageurs dès la création, en 1964, de dessertes à 210 km/h entre Tokyo et Osaka.
En 1974, le président Pompidou lance le projet d’un TGV – train à grande vitesse – conçu par Alstom et exploité par la SNCF, entre Paris et Lyon. Le TGV est mis en service, le 27 septembre 1981. Avec une vitesse de 260km/h en 1981, le TGV atteint la vitesse commerciale de 300km/h en 1989 sur la nouvelle ligne Atlantique. Le 15 mai 1990, il obtient le record du monde de vitesse avec une pointe à 515,3 km/h.
La ligne du TGV Nord, qui dessert Lille, Dunkerque et Calais, est ouverte le 26 septembre 1993. Puis c’est au tour de l’Eurostar d’être inauguré par le président François Mitterrand et la Reine Elizabeth II, le 6 mai 1994. Après Londres, ce sont Bruxelles, Amsterdam et Cologne qui obtiennent leur TGV : le Thalys est lancé le 2 juin 1996. Le TGV Méditerranée de couleur bleue est mis en service, le 7 juin 2001, pour un Paris-Marseille en 3 heures. En 2007 est inaugurée la nouvelle ligne de TGV Est européen : les trains circulent à 320 km/h, reliant Paris à Strasbourg en 2 heures 20 minutes. Le 3 avril 2007, une rame de TGV sensiblement modifiée établit un nouveau record du monde de vitesse sur rail en atteignant 574,8 km/h. Enfin, depuis décembre 2013, le TGV relie Paris à Barcelone en 6 heures.

 

4.    L’antituberculeux du BCG (1921)

 

Le 18 juillet 1921, le BCG, vaccin antituberculeux mis au point par le médecin Albert Calmette et le vétérinaire Camille Guérin, est inoculé avec succès à un nouveau-né dont la mère vient de mourir de tuberculose.
Associés dès le début du XXe siècle, Albert Calmette et Camille Guérin travaillent tous deux à l’Institut Pasteur de Lille à la recherche d’un vaccin contre la tuberculose qui les occupera pendant vingt ans.
En 1905-1906, ils constatent que de jeunes bovins guéris d’une tuberculose expérimentalement provoquée ne sont pas réinfectés. Puis ils constatent en 1908 qu’en ensemençant une souche bovine virulente sur une pomme de terre imprégnée de bile de bœuf, le bacille garde ses caractères principaux, mais perd son pouvoir pathogène.
Ces ensemencements, répétés 230 fois entre 1908 et 1921, rendent finalement la souche complètement inoffensive. Les premiers essais sur des animaux de laboratoire et des bovins sont extrêmement probants et concluent à l’innocuité et au pouvoir protecteur de cette souche biliée. Des essais de vaccination vont dès lors être entrepris sur l’homme. La première vaccination d’un nouveau-né dont la mère vient de mourir de la tuberculose est réalisée le 18 juillet 1921. En 1928, la diffusion en masse du vaccin est lancée.

5.    L'invention de la radioactivité (1898)

 

Après le physicien Henri Becquerel, qui a réussi à mettre en évidence le "rayonnement spontané" de l’uranium (1896), les physiciens Marie Curie, née Sklodowska, et son mari Pierre Curie parviennent à extraire du minerai d’uranium des éléments beaucoup plus actifs encore, le polonium et le radium, à l’origine de ce rayonnement (1898). La "radioactivité" est née.
En faisant la découverte du polonium et du radium qu’ils sont parvenus à isoler, Pierre et Marie Curie établissent la propriété de certains types d’atomes d’émettre spontanément des rayonnements, et donnent à ce phénomène le nom de "radioactivité" (du latin radius, "rayon"). Intensément radioactif, le radium l’est 1 million de fois plus que l’uranium pour la même masse.
En 1903, le prix Nobel de physique est attribué conjointement à Henri Becquerel pour "sa découverte de la radioactivité spontanée" et aux Curie pour leurs "recherches communes sur les phénomènes de radiation découverts par le professeur Becquerel". Dans cet éloge, pas la moindre allusion à leur découverte du radium…
Après la mort accidentelle de Pierre Curie en 1906, Marie hérite de sa chaire à la Sorbonne et poursuit ses recherches. En 1910, le doute n’est plus permis : elle a réussi à isoler l’élément radium sous sa forme métallique, une forme très difficile à obtenir. Un deuxième prix Nobel, en chimie celui-là, lui est attribué l’année suivante. En 1914, est fondé l’Institut du radium (institut Curie). Lors de la Première Guerre mondiale, Marie Curie organise le premier service radiologique mobile. Durant la première moitié du XXe siècle, le radium sera essentiellement utilisé en physique pour l’étude de la structure du noyau atomique et en médecine pour soigner le cancer.

6.    Invention : la mécanique ondulatoire des particules (1924)

 

Découvrant la nature ondulatoire des électrons en 1924, Louis de Broglie (1892-1987) révolutionne la mécanique des particules, en créant la mécanique ondulatoire des particules. C’est désormais à partir de la propagation de l’onde que la trajectoire des particules est calculée.
Fondée sur la théorie des quanta de lumière d’Einstein, qui montre que dans la lumière, il y a à la fois ondes et corpuscules, la mécanique ondulatoire de Louis de Broglie attire très vite l’attention d’Albert Einstein. Nouvelle branche de la physique, confirmée en 1927 par les expériences de Davisson et Germer sur la diffraction des électrons, la mécanique ondulatoire créée par Louis de Broglie embrasse dans une vaste synthèse la physique de la matière et celle de la lumière.
Il reçoit le prix Nobel de physique en 1929 "pour sa découverte de la nature ondulatoire de l’électron", et devient en 1933 le plus jeune membre de l’Académie des Sciences, dont il va devenir en 1942 secrétaire perpétuel. À l’origine d’un tournant capital de la physique moderne, ses vues théoriques sur les ondes de matière ont eu d’innombrables conséquences pratiques. Elles ont notamment permis l’invention du transistor et des circuits intégrés, bases de toute la microélectronique et de l’informatique.

 

7.    L'invention du Concorde (1969-1976)

 

Unique supersonique (volant à une vitesse supérieure à la vitesse du son dans l’air) de l’aviation civile, capable de traverser l’océan Atlantique en moins de quatre heures, le Concorde demeure un avion de légende et un symbole de l’excellence française, même s’il a pris sa retraite en 2003.
Afin de développer un appareil civil supersonique long-courrier, Britanniques et Français – Aérospatiale et British Aircraft Corporation – signent un programme commun, le 29 novembre 1962. Sept ans plus tard, en 1969, les deux premiers vols des prototypes 001 et 002 se déroulent à Toulouse-Blagnac et Bristol-Filton. Il faut ensuite attendre 6 000 heures de vol du Concorde pour que le 21 janvier 1976, Air France lance son exploitation commerciale sur le trajet Paris-Dakar-Rio, tandis qu’un appareil identique appartenant à British Airways effectue un vol entre Londres et Bahreïn. Quatre mois plus tard, le 24 mai 1976, deux Concorde aux couleurs d’Air France et de British Airways s’envolent simultanément sur Paris-Washington et sur Londres-Washington.
Au total, seize avions de série seront construits. Le Concorde ne sera donc pas un succès commercial à proprement parler, mais restera une réussite technologique sans précédent, volant à plus de deux fois la vitesse du son pendant plus de 3 heures. Cependant, si le supersonique consacre un savoir-faire unique, il représente un moyen de transport polluant et coûteux, à l’heure de la démocratisation incarnée par le Boeing B74. Il sera finalement remis en cause pour des raisons techniques après le crash du 25 juillet 2000 qui fait 113 morts à Gonesse. Des modifications permettent une remise en ligne progressive à partir d’octobre 2001. Mais suite à la très grave crise que traverse le transport aérien après les attentats du 11 septembre 2001, Air France et British Airways décident, en avril 2003, l’arrêt définitif des vols commerciaux du Concorde.

8.    Invention des détecteurs de particules (1963-1969)

 

Pour son invention et le développement de détecteurs de particules, en particulier la chambre proportionnelle multifils, Georges Charpak reçoit le prix Nobel de physique en 1992.
La mise au point de détecteurs – chambre à étincelles, chambre à bulles, noyau d’or à haute énergie et surtout chambre proportionnelle multifils – par Georges Charpak vient à une époque où les physiciens ont besoin de détecteurs plus petits et plus rapides afin d’étudier les événements rares auxquels les nouveaux accélérateurs leur donnent accès, et que les progrès de l’électronique leur permettent d’enregistrer. Les chambres de Charpak seront ainsi utilisées pour étudier les effets de collisions à très haute énergie dès la fin des années 1960 et resteront pendant plus de trente ans des éléments essentiels des détecteurs qui équipent les collisionneurs modernes.
Au cours des années 1970 et 1980, Georges Charpak adapte les techniques qu’il a mises au point aux besoins des physiciens dans des secteurs très divers. Mais ce sont surtout les domaines de la biologie et de la médecine qui retiendront de plus en plus son attention. En collaboration avec des équipes de recherche de l’Institut Pasteur et du Centre médical universitaire de Genève, il travaillera à améliorer les techniques d’imagerie des rayonnements ionisants afin d’en améliorer la précision et la sensibilité.

 


 Collection le 10 Octobre 2014

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014

La plus grande cruche d’alcool au Vietnam

Une cruche éléphantesque remplie de 2.500 litres d’alcool préparé à partir de 4 tonnes de maïs et 200 kg de ferment végétal fait la fierté des habitants du district de Na Hang, province de Tuyên Quang. Visite guidée.
Quatre tonnes de maïs et 200 kg de ferment végétal ont été utilisés pour fabriquer cette eau-de-vie typique de la province montagneuse de Tuyên Quang. 

Photo : CTV/CVN

L’alcool de maïs de Na Hang est une eau-de-vie typique de la province montagneuse de Tuyên Quang, au Nord. Une gorgée suffit à celui qui le déguste, professionnel ou non, pour sentir les fragrances agréables du vin, la saveur pénétrante des liqueurs, et les arômes naturels des sous-bois.

Un alcool tellement renommé qu’à l’approche du Têt, les amateurs affluent dans cette haute contrée pour se procurer quelques flasques, pour eux-mêmes ou en cadeau pour leurs amis et proches.

Introuvable ailleurs, cette spécialité de Na Hang doit sa particularité à ses ingrédients : un maïs de qualité et un ferment préparé à partir de 20 espèces de plantes médicinales. Et aussi à un processus de production spécial, en plusieurs étapes : préparation du ferment, cuisson du maïs à grand feu, mélange du maïs et du ferment spécial, fermentation un mois durant réalisée dans des vases ou cruches et, enfin, distillation de l’alcool.

La légende du mont Éléphant-Alcool 


Selon les autochtones de Na Hang, l’originalité de l’acool de maïs local est liée à l’histoire du mont Éléphant (nui voi en vietnamien), le point culminant de la région. Vu de loin, ce mont fait penser à un éléphant se tenant debout à côté d’une cruche d’alcool. Aux dires de Hoàng Van Nha, un vieillard local, le mont Éléphant évoque une légende héroïque. L’histoire se passe il y a fort longtemps, dans la forêt de Pac Ta, à Na Hang, peuplée alors de nombreuses espèces d’animaux féroces dont l’éléphant que les habitants cherchaient à apprivoiser pour en faire une bête de somme. Une année, le pays fit face à une invasion étrangère.

Toutes les forces disponibles furent alors mobilisées pour le front, dont la troupe d’éléphants du village de Na Hang. Dans cette troupe domestiquée, un grand mâle (considéré comme le chef de fil) n’avait rien perdu de sa férocité, à tel point que personne ne pouvait le monter. Puisque le danger venait frapper aux portes du village, un cornac - aussi audacieux qu’imaginatif - se chargea de l’apprivoiser de nouveau. Tout d’abord, il fit construire des barrages sur tous les ruisseaux de la région, créant ainsi une «ceinture sèche» autour de l’habitat de l’éléphant. Trois jours après, il vint verser de l’alcool dans une cavité rocheuse au sein de la «ceinture sèche», sur laquelle se rua la bête, assoiffée. Et ainsi de suite dix jours durant.

L’éléphant, s’accoutumant de plus en plus à l’alcool (en lieu et place de l’eau) mais aussi à la présence du cornac, se laissa - sous les effets de l’éthanol - monter et obéit à ses ordres. Surnommé désormais «Éléphant-Alcool», la bête amadouée partit au front en tant que chef de fil de la troupe, ce qui permit de bouter l’agresseur par-delà les frontières. Après la victoire, l’Éléphant-Alcool fut anobli par le roi qui lui donna le titre de «Duc- Éléphant» avant d’organiser un immense festin où l’alcool coula à flots en l’honneur de son armée triomphante.


D’une pierre deux coups 

L’occasion pour l’«Éléphant-Alcool» d’étancher sa soif avec son eau-de-vie préférée. Il but et but, vidant une cruche, puis une autre, jusqu’à passer l’arme à gauche. L’Éléphant-Alcool mourut en position debout, dans sa posture vaillante d’un combattant au front. Cette nuit-là, il plut à verse, comme si le Ciel eut voulu exprimer son infini chagrin pour le décès de ce héros national. Le lendemain, aux premières lueurs de l’aube, apparut au vu et au su de tout le monde un éléphant pétrifié avec devant lui une grosse cruche d’alcool. Ainsi était né le mont Éléphant...
La cruche contient 2.500 litres d’alcool. Photo : CTV/CVN

L’idée de fabriquer une cruche d’alcool colossale a germé et été concrétisée en 2009, à l’initiative des autorités locales qui ont voulu, à travers cette image, faire valoir la qualité exceptionnelle de l’alcool de maïs de Na Hang, et la tradition d’un métier local, qui fait vivre une centaine de foyers. De plus, «c’est une pierre deux coups, dans la mesure où cet objet symbolique a contribué à promouvoir le tourisme à Na Hang»,explique le chef du Service de la culture, des sports et du tourisme, Lôc Minh Tâm.

La cruche d’alcool de Na Hang étonne les touristes par ses mensurations. Jugez plutôt : 2,9 m de hauteur, 2 m de diamètre au plus large, 1,3 m à la base et 0,93 m à l’ouverture. Pesant 2.850 kg, elle est constituée, entre autres, de 834 kg de ciment, 311 kg d’acier, 60,5 kg de kaolin, 60,5 kg de plâtre et 60,5 kg de mélasse.

Agrémentée à son col rétrici de deux anses, elle arbore sur son corps des motifs stylisés, décrivant des paysages locaux : mont Éléphant, maisons sur pilotis, centrale hydraulique de Tuyên Quang, femmes broyant du riz au pilon, hommes jouant du khèn(flûte des ethnies minoritaires du Nord), danseurs au tambour... «Le groupe d’ingénieurs et d’ouvriers a consacré deux mois pleins à sa construction», révèle Lôc Minh Tân. Et de préciser que la cruche contient 2.500 litres d’alcool préparés à partir de 4 tonnes de maïs et 200 kg de ferment végétal. «Notre alcool a une saveur typique et sa couleur, neutre, est d’une limpidité parfaite. Car, outre un maïs de qualité et un ferment spécial, il est et doit être distillé avec de l’eau de ruisseau de Na Hang».

Appellation d’origine pour l’alcool de Na Hang


Inscrite en 2010 dans le Livre des records du Vietnam, cette gigantesque cruche d’alcool est exposée sur la place d’honneur de la Maison des hôtes de Na Hang. Fin 2011, le Service de la propriété intellectuelle du ministère des Sciences et des Technologies a délivré l’appellation d’origine «Alcool de maïs au ferment végétal de Na Hang».

Le triple mariage chez les Khùa


Chez les Khùa, une ethnie minoritaire du Centre du Vietnam, le mariage n’est pas une mince affaire. Il faut en effet trois cérémonies pour officialiser l’union, espacées parfois de... dix ans.
Chez les Khùa (autres noms : Bru, Vân Kiêu, Mang Cong), un couple se doit d’organiser trois cérémonies de noce. La première officialise la vie sous le même toit de la femme et l’homme. Après un certain temps (des années !), le couple organise deux autres cérémonies. Et ce n’est qu’à ce moment que le couple est considéré comme marié.
Le rituel Bat dâu, première cérémonie de noce chez les Khùa. Photo : Net/CVN

Y Leng, commune de Dân Hoa, district de Minh Hoa, province de Quang Binh, est un beau village traditionnel aux maisons sur pilotis. Ses habitants, tous d’ethnie Khùa, vouent un attachement particulier à la vie conjugale, qui se doit d’être parfaite, sans heurts, comme un long fleuve tranquille. Hô Thoong, 62 ans, a traversé les trois cérémonies de noce. Lui et sa femme vivent ensemble depuis plus de 40 ans et ont toujours beaucoup d’affection l’un pour l’autre.
Attachement conjugal 

Comme Hô Thoong, tous les couples du village d’Y Leng ont suivi l’incontournable mariage à trois étapes. Attention, quiconque serait tenté de «faire plus court» recevrait les remontrances de la communauté.

La triple cérémonie de noce est une des particularités culturelles dont tous les villageois sont fiers, et donc pas question de passer outre. On la considère comme l’occasion de resserrer les liens conjugaux à des intervalles réguliers! Pas un départ à zéro, mais presque.
Chez les Khùa, le bonheur conjugal n’est pas un vain mot. Photo : TH/CVN

Le Bat dâu est la première des cérémonies. La nuit précédente, le marié accompagné de ses proches se rend chez la famille de la mariée à la lueur de torches. Les vieux Khùa considèrent que l’objectif est d’exprimer la sincérité de la famille du marié, son souhait d’une vie conjugale parfaite. Puis le marié et ses proches entrent dans le logis de la famille de la mariée, allument de petits feux autour d’elle, boivent jusqu’à plus soif du ruou cân (alcool de riz siroté une tige de bambou creuse) et discutent jusqu’à l’aube! Au début de la journée, le Bat dâu débute. Deux femmes proches du marié pénètrent dans la maison de la mariée. Trente minutes après, celle-ci sort et agite les mains en signe d’approbation. Sa dot se compose d’un bracelet et d’un collier en argent, d’une tenue fabriquée par sa mère.

Trois cérémonies pour le prix d’une
Chez les Khùa, le bonheur conjugal n’est pas un vain mot. Photo : TH/CVN

«Dans mon village, les jeunes filles et hommes sont libres de se choisir. Il n’y a pas de mariage forcé. Une fois que les deux familles ont accepté l’union, la première cérémonie de noces est organisée. Les présents, préparés par la famille du marié, comprennent quatre bols de riz, deux bijoux, quatre coqs, un cochon. Le couple commence alors sa période de vie en commun. Dix ans plus tard, la famille du marié rencontre de nouveau celle de la mariée, qui reçoit deux cochons et 24 coqs comme cadeaux de mariage. À l’occasion de cette seconde cérémonie, les voisins sont invités. Enfin, la 3e cérémonie a lieu cinq à sept ans plus tard. Les présents sont un cochon, un buffle et six coqs. Les invités sont les membres et proches de la famille de la mariée, ses voisins», explique M. Thoong.

Un homme Khùa est reconnu marié qu’après avoir traversé ces trois cérémonies. Lui et sa femme sont alors considérés comme un couple au vrai sens du terme. Si la femme décède avant l’homme, notamment avant la 3e cérémonie, de nombreuses familles du marié décident néanmoins de l’organiser. Cela signifie que l’homme est toujours attaché à sa femme, au-delà la mort. L’organisation de cet évènement n’est pas un fardeau pour l’homme.

Hô Cui, 55 ans, est le patriarche du village : «La triple cérémonie de mariage existe depuis des générations chez les Khùa». Ce qui ne veut pas dire qu’elle n’évolue pas. D’après Hô Thoong, «certaines familles en situation de précarité ont du mal à assurer toutes ces festivités en raison de dépenses importantes, aussi les procédures sont-elles parfois allégées. Personne n’y trouve rien à redire, le principal étant de sceller une union».